Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Chương 26: Lễ Đông chí

Go down 
Tác giảThông điệp
Bibibobo



Tổng số bài gửi : 161
Join date : 22/07/2010

Bài gửiTiêu đề: Chương 26: Lễ Đông chí   Tue Aug 24, 2010 7:42 pm

Lễ Đông chí
“Không, cảm ơn, cụ Galen. Con sẽ không tới dự tiệc Đông chí của mấy mụ phù thủy đó đâu. Pháp sư chúng con không ăn mừng lễ đó.” Sarah nói với cụ bà Galen sau khi Silas đi khỏi vào sáng hôm đó.
“Ồ, còn ta thì ta sẽ đi,” cụ bà Galen bảo. “Và ta nghĩ tất cả chúng ta nên đi. Con không được khước từ lời mời của một mụ phù thủy Wendron dễ dàng như vậy, Sarah. Được mời là một vinh dự. Thật tình, ta không thể tưởng tượng được Silas xoay sở cách nào mà tất cả chúng ta lại được mời đấy.”
“Hừm,” là lời đáp duy nhất của Sarah.
Nhưng khi chiều gần tàn thì mùi thịt chồn nướng thơm phưng phức bay khắp cánh rừng, xộc lên ngôi nhà cây, khiến cho bọn con trai đứng ngồi không yên. Cụ bà Galen chỉ ăn toàn rau xanh, rễ cây với các loại hạt, toàn là những thứ mà như Erik phát biểu oang oang sau bữa ăn đầu tiên của họ với cụ bà Galen, chính xác là những thứ ở nhà chúng vẫn cho thỏ ăn.
Khi cụ bà Galen mở cánh cửa sập của ngôi nhà cây, tuyết đang rơi dầy. Dùng một hệ thống ròng rọc thông minh tự sáng chế, cụ thả chiếc thang gỗ dài xuống, tựa vào tấm mền tuyết giờ đây đã phủ đầy mặt đất. Ngôi nhà cây được dựng trên một cụm chạc cây bắt ngang qua ba cây sồi cổ thụ. Ngôi nhà là một phần của những cây sồi kể từ khi chúng đạt chiều cao hết cỡ từ hàng mấy trăm năm trước. Suốt bao nhiêu năm, từ cụm chạc cây ấy mọc lên một lô những túp lều lộn xộn. Nhưng cây thường xuân và dây leo quấn vào nhau, bao phủ lấy chúng, chằng chịt đến nỗi đứng dưới nền rừng, không ai có thể nhìn thấy những túp lều đó.
Sam, Edd và Erik, và Jo-Jo ở chung trong một cái lều khác tít trên ngọn cây sồi giữa và có dây thừng riêng để tụt xuống cánh rừng. Trong khi bọn con trai giành giật coi đứa nào đu xuống đất, thì cụ bà Galen, Sarah và bà Sally từ tốn leo xuống bằng cái thang chính.
Cụ bà Galen ăn diện chỉnh tề cho tiệc Đông chí. Cụ đã từng được mời một lần cách đây nhiều năm sau khi cụ chữa khỏi bệnh cho một đứa con của một phù thủy, và cụ biết đó là một sự kiện đặc biệt. Cụ bà Galen là một phụ nữ nhỏ nhắn, ít nhiều mang vẻ phong trần sau bao nhiêu năm sống ngoài trời giữa cánh rừng. Cụ có mái tóc đỏ lồng ngồng, đôi mắt nâu biết cười và bình thường cụ hay mặc áo chẽn ngắn đơn giản màu xanh lá, quấn xà cạp và khoác áo khoác. Nhưng hôm nay cụ mặc chiếc váy lễ Đông chí của mình.
“Úi trời ơi, cụ Galen à, cụ bày vẽ quá đấy,” Sarah thốt lên, có vẻ hơi bất mãn. “Con chưa thấy cái váy đó bao giờ. Cái váy đó thật là… cũng ra gì đấy.”
Cụ bà galen ít khi đi ra ngoài, nhưng mỗi khi có dịp đi là cụ ăn mặc ra trò. Váy của cụ như thể được làm từ hàng trăm chiếc lá màu sắc sặc sỡ kết lại với nhau và được cột lại ở thắt lưng bằng một chiếc khăn màu xanh lá cây đậm.
“Ôi cảm ơn,” cụ bà Galen nói. “Ta tự may lấy đấy.”
“Con cũng nghĩ vậy.” Sarah bảo.
Bà Sally Mullin đẩy cái thang thụt trở lại ô cửa sập, và đoàn người lên đường, băng qua cánh rừng, đi theo cái mùi thịt chồn nướng thơm lừng.
Cụ bà Galen dẫn họ đi theo những lối mòn trong cánh rừng, phủ đầy tuyết mới rơi và chi chít những dấu chân thú đủ mọi hình thù và kích cỡ. Sau một hồi lê bước thật lâu qua mê cung những lối với ngõ, những hào với rãnh, họ tới cái nơi đã từng là mỏ khai thác đá phiến để xây dựng Lâu đài. Ngày nay, đó là nơi diễn ra những lễ hội của đám phù thủy Wendron.
Ba mươi chín mụ phù thủy, tất cả đều mặc áo thụng Đông chí đỏ rực, vây quanh một đống lửa đang cháy phừng phực ở ngay chính giữa mỏ đá. Mặt đất vương vãi đầy các loại rau mới cắt. Tuyết rơi nhè nhẹ phủ đầy khắp xung quanh, một số lớn tuyết bị tan ra và kêu xèo xèo dưới sức nóng của đống lửa. Không khí dậy mùi đồ ăn tẩm gia vị: thịt xiên quay, thịt chồn nướng, thịt thỏ hầm trong những cái vạc sôi sùng sục, thịt sóc nướng trên những vỉ lò chìm dưới đất. Một chiếc bàn dài chất ngồn ngộn đủ mọi loại thức ăn ngọt và gia vị. Những mụ phù thủy Wendron đã trao đổi hàng hóa với cánh lái buôn phương Bắc để có được những món đó và để dành cho dịp này- cái ngày quan trọng nhất trong năm. Đôi mắt bọn con trai tròn xoe kinh ngạc. Chúng chưa bao giờ trông thấy nhiều đồ ăn ở cùng một chỗ đến thế trong đời. Ngay cả Sarah cũng phải thừa nhận với bản thân rằng quang cảnh thật là ấn tượng.
Morwenna Mould phát hiện ra họ đứng láng cháng ở lối vào mỏ đá. Bà túm chiếc áo thụng đỏ lông thú của mình lên và ùa ra đón họ.
“Chào cả nhà. Mời chung vui với chúng tôi.”
Những mụ phù thủy đang túm tụm liền dạt ra một cách kính cẩn để cho Morwenna Mould, Mẹ Phù thủy, hộ tống những vị khác có vẻ e sợ tới những chỗ tốt nhất bên đống lửa.
“Rất vui mừng là cuối cùng cũng được gặp cô, Sarah.” Morwenna mỉm cười. “ Tôi cảm thấy như thể đã biết cô rồi vậy. Silas kể cho tôi nghe rất nhiều về cô vào cái đêm anh ấy cứu sống tôi.”
“Anh ấy cứu bà à?” Sarah hỏi.
“Ồ, phải. Anh ấy nói về cô và đứa nhỏ suốt đêm dài.”
“Thật à?”
Morwenna choàng cánh tay qua vai Sarah:
“Tất cả chúng tôi đều đang tìm kiếm con trai cô. Tôi đảm bảo là cuối cùng rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi. Và với ba đứa kia giờ đang ở xa cô, tất cả bọn chúng cũng sẽ ổn cả thôi.”
“Ba đứa khác của tôi?” Sarah hỏi.
“Ba đứa khác của cô.”
Sarah vội vàng đếm lại con. Đôi khi ngay cả bà cũng không nhớ là có bao nhiêu đứa nữa.
“Hai,” bà nói “Hai đứa chứ.”
Tiệc Đông chí tiếp diễn đến tận nửa đêm, và sau khi nốc rất nhiều bia ủ của những mụ phù thủy, Sarah hoàn toàn quên bẵng mối lo lắng về Simon với Silas. Rủi thay, tất cả nỗi lo đó lại trở về với bà vào sáng hôm sau, cùng với một cơn nhức đầu như búa bổ.

Lễ Đông chí của Silas lại uể oải hơn nhiều.
Ông men theo lối bờ sông dọc bìa rừng, sau đó đi quanh những bức tường Lâu đài. Dưới từng đợt mưa tuyết lạnh buốt thổi bạt cả người, ông hướng đến Cổng Bắc. Ông muốn về lại lãnh địa quen thuộc trước đã rồi mới quyết định xem phải làm gì tiếp theo. Silas kéo chiếc mũ trùm màu xám sụp xuống che đôi mắt pháp sư xanh lá cây của mình, hít sâu một hơi và băng qua cây cầu phủ đầy tuyết, bắc qua hào nước, dẫn tới cổng Bắc.
Lão Gringe đang gác trong chòi canh, và lão đang bực tức. Có việc không vui xảy ra trong gia đình Gringe vào đúng lúc đó, và suốt buổi sang lão Gringe cứ bận nghĩ ngợi đến những vấn đề nội bộ gia đình mình.
“Ối cha này,” lão Gringe làu bàu, giậm chân bành bạch trong tuyết lạnh, “Lẹ lẹ lên. Trễ buổi dọn vệ sinh đường phố cưỡng bức rồi.”
Silas hối hả đi qua.
“Không được lẹ thế!” Lão Gringe sủa. “Phải nộp bốn xu đã.”
Silas lục lọi trong túi áo và móc ra một đồng bốn xu dính nhớp nháp bánh anh đào và củ cải vàng của dì Zelda mà ông đã nhét vào túi để khỏi phải ăn. Lão Gringe cầm lấy đồng tiền và ngửi nó một cách nghi ngờ. đoạn lão chùi đồng xu và áo chẽn da của mình và đặt nó riêng qua một bên. Mụ Gringe có một nhiệm vụ là rửa sạch những đồng tiền dính lớp nhớp vào mỗi buổi tối, vì vậy lão thảy đồng tiền vào cái đống dành riêng cho mụ và để cho Silas qua.
“Ê, chẳng lẽ ta lại không biết nhà anh từ đâu tới sao?” Lão Gringe hỏi to khi Silas vù qua.
Silas lắc đầu.
“Morris vũ công hả”
Silas lắc đầu lần nữa và cứ bước tiếp.
“Lute thầy giáo?”
“Không!” Silas lỉnh vào bóng tối và biến mất vào một ngõ hẻm.
“Ta biế hắn rồi,” lão Gringe lẩm bẩm một mình. “Và hắn chẳng phải thợ thuyền gì. Mắt xanh lá cây sáng rực giống cặp sâu bướm trong xô than kiểu đó…” Lão Gringe nghĩ ngợi một hồi. “Đó là Silas Heap! Hắn điên rồi nên mới tới đây. Ta sẽ tìm ra hắn ngay thôi.”
Chẳng phải đợi lâu, lão Gringe đã tìm thấy một tên lính bảo hộ đi ngang qua, và cũng chẳng phải đợi lâu, vị Bảo hộ Toàn quyền đã biết tin Silas trở về Lâu đài. Nhưng dù có cố lùng sục đến thế nào lão cũng không tìm ra Silas. Hộ vệ của bà Marcia đang phát huy tác dụng.
Trong khi đó, Silas mải miết đi thật nhanh qua khu Mở Rộng cũ kỹ, lòng đầy biết ơn vì đã thoát khỏi cả lão Gringe lẫn tuyết. Ông biết mình đang đi đâu; ông không chắc tại sao, nhưng ông muốn thấy lại căn nhà cũ của mình một lần nữa. Silas len lỏi đi qua những hành lang quen thuộc tối om. Ông hài lòng với cách cải trang của mình, bởi vì không ai thèm chú ý tới một tên thợ hèn mọn, thế nhưng Silas không ngờ là họ lại ít tôn trọng ông đến thế. Không ai dừng lại cho ông đi qua. Người ta xô đẩy, chen lấn ông, sập cửa ngay trước mũi ông, và hai lần ông bị mắng tét tát rằng cái thân ông phải đi quét dọn đường phố mới đúng. Có lẽ, Silas nghĩ bụng, xét cho cùng, là một Pháp sư Thường đẳng quả cũng không đến nỗi tệ.
Cánh cửa phòng gia đình Heap để mở bung một cách thê lương. Hình như nó không nhận ra Silas khi ông rón rén đi vào căn phòng mà ông đã sống suốt hai mươi lăm năm qua. Silas ngồi xuống chiếc ghế tự đóng mà ông vẫn yêu thích nhất và buồn bã quan sát căn phòng, đắm chìm trong suy nghĩ. Trông căn phòng nhỏ bé đến kỳ lạ vì vắng bóng bọn trẻ, vắng tiếng ồn ào và vắng sự chỉ huy của Sarah ngày này sang tháng nọ. Căn phòng cũng bẩn thỉu một cách đáng ngại, đó là Silas vốn đã không bao giờ để ý đến chuyện dơ chỗ này, lấm chỗ kia.
“Chúng sống trong bãi rác hay sao ấy? Cái bọn pháp sư dơ bẩn. Chẳng thời gian đâu mà đi hầu bọn nó.”
Một giọng thô lỗ vang lên. Sials quay lại, thấy một người đàn ông lực lưỡng đang đứng ngay ngưỡng cửa. Đằng sau gã, Silas thấy một chiếc xe thồ bằng gỗ to kềnh càng đậu ngoài hành lang.
“Không ngờ họ cũng phái thêm người tới phụ, Tử tế đấy. Mình tôi chắc phải mất toi nguyên ngày. Rồi, xe thồ để ngoài đó. Tất cả tống hết ra bãi rác. Sách Pháp thuật thì đốt hết. Hiểu chưa?”
“Cái gì?”
“Trời. Họ gửi tới cho tôi một ông khùng rồi. Đồ đạc. Xe thồ. Rác rưởi. Chứ có phải thuật giả kim đâu chớ. Nào đưa cái đống gỗ ông đang thượng lên ấy đây rồi bắt tay làm thôi nào.”
Silas đứng lên khỏi ghế như trong một giấc mơ và trao nó cho người đàn ông dọn vệ sinh. Gã cầm lấy và quẳng nó vào xe thồ. Chiếc ghế vỡ tan tành và nằm ngổn ngang dưới đấy thùng xe. Chẳng mấy chốc nó đã bị chèn dưới một đống khổng lồ những của cải ky cóp suốt đời của gia đình Heap và chiếc xe thồ tràn ứ cả ra ngoài.
“Xong rồi,” gã dọn nhà nói. “Tôi sẽ đem mớ này tống ra bãi rác trước khi bãi rác đóng cửa, trong lúc đó ông đem sách Pháp thuật chất ra ngoài đi. Ngày mai lính cứu hỏa sẽ đến thu gom luôn một lần.”
Gã trao cho Silas một cái chổi lớn.
“Ông quét sạch hết cái đám lông chó gớm guốc đó đi và, sau đó có thể về nhà. Trông ông coi bộ mệt mỏi. Không quen làm việc nặng, hả!”
Gã đàn ông dọn dẹp cười khùng khục và đấm bụp vào lưng Silas theo ý thân thiện. Silas bật ho và mỉm một nụ cười thiểu não.
“Đừng quên đống sách Pháp thuật,” là lời khuyên tạm biệt của gã đàn ông trong lúc đẩy chiếc xe thồ lảo đảo xuống hành lang trên đường ra Bãi rác Bờ sông Thơ mộng.
Trong ánh sáng chập choạng, Silas quét sạch bụi bậm, lông chó và rác rến trị giá hai mươi lăm năm thành một đống gọn ghẽ. Xong, ông nhìn chằm chằm một cách tiếc rẻ đống sách Pháp thuật của mình.
“Nếu anh muốn, để ta giúp anh một tay.” Giọng ngài Alther vang lên kế bên ông. Con ma vòng tay quanh vai Silas.
“Ồ chào ngài Alther,” Silas nói buồn bã. “Một ngày thật tồi tệ.”
“Ừ, chẳng tốt đẹp gì. Ta rất tiếc, Silas.”
“Tất cả…mất rồi,” Silas lẩm bẩm,” và giờ thì cả sách nữa. Chúng tôi có nhiều cuốn tốt lắm. Rất nhiều bùa hiểm…Tất cả sẽ bị quăng vào lửa.”
“Không nhất thiết thế,” ngài Alther bảo.” Chúng vừa vặn phòng ngủ trên mái của anh mà. Nếu muốn, để ta giúp anh ếm bùa Di chuyển.”
Silas tươi tỉnh lên một chút.
“Chỉ cần nhắc tôi cách lầm thôi là tôi tự làm được, ngài Alther à. Tôi chắc chắn mình làm được mà.”
Cú Di chuyển của Silas diễn ra suôn sẻ. Sách xếp chồng lên nhau gọn ghẽ, cửa sập bật mở, và từng quyển sách một chui qua cửa, chất chặt trong phòng ngủ cũ của Sarah và Silas. Có một hai cuốn trong đám sách phản kháng, cắm đầu bay ra cửa, và nửa đường phải đáp xuống hành lang trước khi Silas kịp ếm bùa Gọi chúng quay lại. Kết thúc câu thần chú, tất cả đám sách Pháp thuật đều đã nằm an toàn trên gác mài và Silas thậm chí còn ếm bừa Cải trang cửa sập. Bây giờ thì không ai có thể đoán được hồi trước đó là cái gì nữa.
Và thế là Silas bước ra khỏi căn phòng trống lốc, dội âm vang vang của mình lần cuối và đi dọc theo Hành lang 223. Ngài Alther trôi bập bềnh bên cạnh.
“Tới ngồi nghỉ với bọn ta một lát,” ngài Alther mời, “dưới Hốc Tường.”
“Ở đâu ạ?”
“Ta cũng mới khám phá ra gần đây thôi. Một vị trong đám Cổ Nhân chỉ cho ta. Đó là một quán rượu cũ ở bên trong những bức tường Lâu đài. Đã bị xây bít lại từ nhiều năm trước vì có một Nữ hoàng đã không ủng hộ việc uống bia. Có lẽ anh chỉ việc đi bộ dọc theo mấy bức tường Lâu đài…Ủa mà ai lại chẳng đi như thế nhỉ?...Ma có thể lọt vào được, nên chỗ đó đông ken. Bầu không khí thì tuyệt vời… có thể nâng cốc chúng mừng anh.”
“Tôi cũng chẳng biết có muốn vô đó không nữa, ngài Alther à, nhưng dù sao cũng cảm ơn ngài. Đó có phải là chỗ có bà xơ bị xây bít bằng gạch lại không?”
“Ồ, bà ấy, vui tuyệt, xơ Bernadette ấy. Mê bia vại. Cuộc đời và linh hồn của tiệc tùng. Đúng là thế. Nhân tiện, ta có chút tin tức về Simon mà ta nghĩ là anh nên nghe”
“Simon! Nó có sao không? Nó đang ở đâu?” Silas hỏi dồn.
“Nó ở đây, Silas. Trong Lâu đài. Tới Hốc Tường đi đã. Ở đó có người anh cần phải nói chuyện đấy.”

Quán rượu Hốc Tường huyên náo ồn ào.
Ngài Alther dẫn Silas tới một đống đá xiêu vẹo như chực đổ chất tựa và bức tường Lâu đài gần cổng Bắc. Ngài chỉ cho ông thấy một lỗ hổng nhỏ trong tường bị che khuất đằng sau đống xà bần, và Silas loay hoay tưởng chừng như không thể chui qua lọt. Lọt được vào rồi, ông nhận ra mình đang ở trong một thế giới khác.
Hốc Tường là một quán rượu cổ được xây bên trong bức tường rộng dày của Lâu đài. Khi bà Marcia đi đường tắt tới khu Bờ Bắc cách đây vài ngày, một phần cuộc hành trình của bà là đi trên nóc quán rượu, nhưng bà đã không hề nhận ra đám đông gồm đủ hạng ma đang nói cười bất tận suốt bao năm ngay bên dưới chân mình.
Silas phải mất mấy phút để mắt điều chỉnh từ ánh sáng chói chang của tuyết sang ánh đèn dầu tù mù lập lòe dọc theo những bức tường. Nhưng khi đã quen rồi, ông dần dần nhận thấy một bộ sưu tập ma kì dị nhất. Họ tụ tập quanh những chiếc bàn bộ ngựa dài, đứng túm tụm thành từng nhóm nhỏ bên cạnh lò sưởi ma hoặc ngồi lẻ loi trầm ngâm ở một góc im ắng. Có cả một đoàn quân Pháp sư Tối thượng hùng hậu góp mặt, những chiếc áo chùng áo thụng đỏ tía của họ mang đủ mọi kiểu dáng khác nhau, những chú tiểu đồng trong những bộ quần áo người hầu lố lăng, những phụ nữ choàng khăn, những Nữ hoàng trẻ trong váy lụa quyền quý và những Nữ hoàng già trong trang phục màu đen… tất cả đều đang vui thú đàn đúm với nhau.
Ngài Alther dẫn Silas băng qua đám đông, Silas cố hết sức để không bước xuyên qua bất cứ ai trong số họ, nhưng có một, hai lần ông cảm thấy có một luồng gió lạnh toát khi đi sượt ngang một con ma. Dường như không ai bận tâm tới họ - một số người gật đầu thân thiện với ông và những người khác mải chuyện trò bất tận nên không để ý- và Silas có ấn tượng là bất cứ người bạn nào của ngài Alther cũng là một vị khách được chào đón nồng nhiệt ở Hốc Tường.
Con ma chủ quán rượu đã từ rất lâu rồi không còn lăng xăng bên những thùng bia nữa, bởi vì tất cả các con ma đều đang nâng niu đúng cái vại bia mà họ được trao khi đến quán lần đầu tiên, và một số cốc vại đã kéo dài được mấy trăm năm. Ngài Alther cất tiếng chào ông chủ quán, đang say sưa tán gẫu với ba vị Pháp sư Tối thượng và một kẻ lang thang, kẻ này cách đây lâu rồi đã ngủ gật dưới gầm một trong những chiếc bàn và không bao giờ tỉnh dậy nữa. Sau đó ngài dẫn Silas tới một góc yên lặng hơn, ở đó một hình hài phốp pháp trong bộ quần áo nữ tu đang ngồi đợi họ.
“Vui long cho ta giới thiệu xơ Bernadette,” ngài Alther nói. “Xơ Bernadette, đây là Silas Heap – người mà tôi đã kể cho xơ nghe. Anh ta là cha của cậu bé.”
Mặc cho nụ cười rạng rỡ của xơ Bernadette, Silas vẫn linh cảm có một điềm gở gì đó.
Bà xơ mặt tròn xoe hướng đôi mắt long lanh về phía Silas và nói bằng giọng nhỏ nhẹ, du dương:
“Ra trò đấy, thằng con anh ấy, đúng không? Cậu ấy biết mình muốn gì, và không sợ phải xông pha để đạt được điều đó.”
“Vâng tôi cũng nghĩ vậy. Chắc là nó muốn trở thành một pháp sư, tôi biết. Nó muốn là một học trò, nhưng dĩ nhiên với tình hình bây giờ thì…”
“À, làm một pháp sư trẻ và đầy hứa hẹn lúc này thì không hợp thời là chắc rồi,” vị nữ tu đồng ý. “Nhưng đó không phải là lý do để cậu ấy trở lại Lâu đài, anh biết đấy.”
“Vậy là nó trở lại rồi. Ồ, thật may. Tôi nghĩ nó bị bắt chớ. Hoặc…bị giết.”
Ngài Alther đặt tay lên vai Silas.
“Rủi quá, Silas à, thằng nhỏ bị bắt hồi hôm qua. Xơ Bernadette có mặt ở đó. Bà ấy sẽ kể cho anh nghe.”
Silas đưa hai tay ôm lấy đầu và bắt đầu rên rỉ.
“Sao lại bị bắt?” Ông hỏi.”Chuyện gì xảy ra vậy?”
“Từ từ nào,” bà xơ nói. “Hình như là cậu Simon trẻ tuổi ấy có một cô bạn gái.”
“Vậy à?”
“Phải, đúng vậy. Lucy Gringe là tên cô bé.”
“Không phải con gái của lão Gringe gác cổng đấy chứ? Ôi, đừng!”
“Tôi chắc chắn cô bé ấy là một cô gái ngoan, Silas à” xơ Bernadette phản đối.
“Hừm, tôi hy vọng nó không có gì giống với cha nó, đó là tất cả những gì tôi có thể nói. Lucy Gringe. Ối trời ơi.”
“Thôi nào, Silas, xem ra Simon trốn trở lại Lâu đài là vì một lý do thúc bách. Cậu ta và Lucy đã bí mật hẹn nhau ở nhà nguyện. Để làm đám cưới. Thật lãng mạn,” bà xơ mỉm cười mơ màng.
“Cưới nhau? Tôi không tin. Tôi mà sui gia với lão Gringe quái đản ấy à!” Silas trông còn trắng bệch hơn cả một số người trong quán rượu.
“Không, Silas, ông chưa có sui gia đâu,” xơ Bernadette nói vẻ bài bác. “ Bởi vì rủi thay, chàng Simon và nàng Lucy chưa cưới nhau được.”
“Sao lại rủi thay?”
“Lão Gringe phát hiện ra và tâu với bọn lính bảo bộ. Lão chẳng muốn con gái mình lấy một gã Heap, cũng chẳng thua gì anh không muốn Simon cưới con gái lão Gringe đâu. Bọn lính canh lao tới nhà nguyện, tống cô thiếu nữ mất trí về nhà và giải Simon đi.”
“Chúng đem nó đi đâu?” Silas lặng lẽ hỏi.
“Ồ, coi, Silas,” xơ Bernadette nói bằng giọng êm ái “ chính tôi đã ở trong nhà nguyện đó để dự lễ cưới đó. Tôi thích lễ cưới mà. Và tên lính canh lôi Simon đi xuyên hẳn qua tôi, và vì vậy tôi biết hắn đang nghĩ gì vào ngay lúc đó. Lúc đó hắn đang tính đem con trai anh tới Tòa án. Tôi gặp dích thân Bảo hộ Toàn quyền. Tôi rất tiếc phải nói điều đó với anh, Silas à.”
Bà xơ đặt bàn tay ma của mình lên cánh tay Silas. Cái chạm tay của bà tuy có ấm, nhưng chẳng an ủi Silas được bao nhiêu.
Đó là cái tin mà Silas sợ nhất. Simon nằm trong tay Bảo hộ Toàn quyền – làm thế nào ông có thể báo cái tin khủng khiếp này cho Sarah đây? Còn lại nguyên ngày, Silas ở trong Hốc Tường, chờ đợi, trong khi ngài Alther phái thật nhiều ma tới Tòa án để tìm kiếm Simon và tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra với cậu ta.
Không ai có may mắn mang được tin gì về cả. Cứ như thể Simon đã biến mất vậy.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Chương 26: Lễ Đông chí
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MTUANPRO :: V. GIẢI TRÍ :: Game-
Chuyển đến